Saturday, 31/10/2020 - 10:43|
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẦN ĐỨC THỌ

Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục: Những ưu điểm, hạn chế và một số giải pháp

Qua 4 năm thực hiện dạy học lớp 1 theo tài liệu Tiếng Việt công nghệ giáo dục tôi nhận thấy chương trình có một số ưu điểm và hạn chế như sau:

 

1. Ưu điểm:

- Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian để nghiên cứu bài dạy.

- Tài liệu thiết tế chi tiết cho từng tiết dạy, từng mẫu bài.

- Không mất thời gian chuẩn bị đồ dùng dạy học.

- Học sinh được học kiến thức từ âm đến chữ, khắc sâu hoạt động chiếm lĩnh ngữ âm.

- Phần lớn học sinh nắm chắc luật chính tả; xác định được âm đầu, âm đệm, âm chính âm cuối và đánh dấu thanh ở vị trí âm chính.

- Thao tác phân tích tiếng bằng tay tạo được hứng thú cho học sinh.
- Tuần 0 thực sự có ý nghĩa trong việc giúp học sinh làm quen với những quy ước và thao tác căn bản ban đầu, giúp quá trình học của học sinh diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả.

2. Khó khăn, hạn chế:

- Trước đây học sinh được học chữ cái ở mầm non nên rất thuận lợi khi vào lớp 1, hầu hết các em đã biết chữ cái nên các em tự tin hơn, không bỡ ngỡ, không bị áp lực và mọi sự tiếp nhận về âm, về tiếng, đọc và nghe viết dễ dàng hơn bây giờ.

- Về phía phụ huynh: Phụ huynh không dám hướng dẫn, kèm cặp con vì sợ sai với cách dạy của chương trình mới.

- Ở tuần 0 giáo viên đã dạy cho các em viết các nét cơ bản, các em đã quen với cách trình bày các nét theo khoảng cách rộng và thằng hàng nên khi bước sang viết từ, viết câu, đoạn văn hầu hết các em trình bày không đúng khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng.

- Mặc dù giáo viên không phải soạn bài và chỉ việc dạy theo một quy trình nhất định thế nhưng sau mỗi bài dạy, mỗi tuần học giáo viên còn nhiều trăn trở về chất lượng học sinh, phải thảo luận tìm biện pháp giúp học sinh nhớ âm, đọc và nghe viết tốt hơn.

- Quan điểm “chân không về nghĩa” không đúng với bản chất của ngôn ngữ và không phù hợp với thực tiễn dạy học ngôn ngữ, trái với nguyên tắc dạy học tiếng theo quan điểm giao tiếp. Hoạt động giúp học sinh đọc hiểu bài đọc như tìm hiểu nghĩa của từ, nội dung của câu và đoạn văn, trả lời câu hỏi đọc hiểu chưa được chú trọng. Vì vậy học sinh có thể đọc thành tiếng văn bản nhưng không hiểu nghĩa. Và đây cũng là một hạn chế, một khó khăn bước đầu cho học sinh khi học phân môn Tập làm văn ở lớp 2.

- Tài liệu cũng chưa đáp ứng tốt mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, hạn chế này thể hiện rõ nhất qua phần ngữ liệu.

- Có những bài học 6 vần, nhiều bài đọc dài, tập viết và viết chính tả nhiều; quy trình các việc khá nhiều bước nên học sinh rất khó hoàn thành bài học trong 1 tiết.

- Có nhiều em, hôm nay chưa nhớ được âm (vần) của bài này thì ngày mai đã tiếp tục sang âm (vần) khác.

3. Một số giải pháp

Từ những khó khăn, hạn chế nêu trên tôi xin chia sẽ một số giải pháp như sau:

- Ngay từ buổi học đầu tiên của tuần 0, GVCN tổ chức hội ý riêng với phụ huynh học sinh để hướng dẫn mua đúng các loại sách vở, đồ dùng; giúp phụ huynh cách hướng dẫn con học ở nhà; giới thiệu qua một số điểm mới của Tiếng Việt 1 CGD như cách phát âm, âm c, k, q, d, gi, các nguyên âm đôi và cách đánh vần.

- GVCN trao đổi và thống nhất các quan điểm giáo dục các em ở nhà của phụ huynh như: khuyến khích con tự học, nên khen con thường xuyên, kiên nhẫn, biết đợi và biết lắng nghe những điều các con nói. Phụ huynh cũng không nên kiểm soát việc học của con bằng cách đặt câu hỏi, không nên dạy con học trước hay chê con khi con chưa làm được. Đặc biệt không nên nóng giận, áp đặt suy nghĩ của mình cho trẻ và tạo áp lực về điểm số, thành tích đối với các em.

- Giáo viên luôn tạo không khí vui thích đến trường cho các em; gần gũi, nhẹ nhàng, tận tình, không nóng vội; luôn nghiên cứu kĩ bài dạy trước khi lên lớp.

- Thực hiện đúng các quy trình của 4 việc: Chiếm lĩnh ngữ âm; học viết chữ ghi âm; đọc; viết chính tả và tiến hành theo 04 bước: Nhận diện ngữ âm; tập viết; đọc và luật chính tả.

- Giáo viên thực hiện tốt việc đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó chú trọng và nâng cao hiệu quả đánh giá thường xuyên, đánh giá trực tiếp để kịp thời động viên, khuyến khích học sinh trong quá trình tham gia hoạt động học tập.

- Tăng cường công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm trong triển khai dạy học theo chương trình Tiếng Việt lớp 1 - CNG, nâng cao vai trò tư vấn, hỗ trợ của đội ngũ giáo viên cốt cán Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng như giáo viên cốt cán tại trường.

- Tham gia đầy đủ, có chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn cụm trường do phòng GD&ĐT tổ chức.

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, rút kinh nghiệm và đề ra những giải pháp để khắc phục hạn chế.

- Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc và viết:

1. Đọc:

+ GV phát âm, đọc mẫu đúng chuẩn, rõ ràng, dứt khoát.

+ Hướng dẫn học sinh vị trí đặt lưỡi, cách đẩy lưỡi và độ mở của môi để học sinh phát âm đúng.
+ Giúp HS nắm chắc tiếng gồm 3 phần: phần đầu, phần vần, phần thanh.

+ Cho HS đọc theo 4 mức độ T- N- N- T.

Ngoài việc giáo viên thực hiện đúng các bước của việc 3, giáo viên còn có một số biện pháp sau:

+ Giúp học sinh nhớ âm bằng cách: GV viết các âm vào góc bảng bên phải, hằng ngày cho học sinh đọc đồng thanh, đọc các nhân trước khi học âm mới, đặc biệt chú ý đến học sinh chậm tiến. GV in các kiểu chữ in hoa, in thường, viết hoa, viết thường phát cho mỗi em để học sinh nhìn luyện đọc và luyện viết hằng ngày.

+ Giúp học sinh biết cách đánh vần: GV che dấu thanh, che âm đầu và hỏi vần gì, sau đó đánh vần.

+ Các bước dạy việc 3: Đọc bảng và đọc sách giáo khoa.

  • Đọc thầm
  • GV nhận xét, hướng dẫn và đọc mẫu.
  • HS khá đọc.
  • Hỏi: Mô hình, hỏi bài đọc có mấy câu.
  • Cá nhân đọc nối tiếp từng phần, từng câu.
  • Nối tiếp từng, phần từng câu theo tổ.
  • Đọc đồng thanh.

+ Đối với học sinh chậm tiến, giáo viên cho các em luyện đọc nhiều hơn.

2. Nghe viết

+ Thực hiện đúng 4 bước: Nhắc lại, phân tích, viết, đọc lại.

+ Viết bảng con, viết vở nháp, viết vở chính tả.

+ Trong quá trình HS viết, giáo viên đến tận từng em để kiểm tra nhắc nhở và sửa sai cho các em.

3. Luyện viết chữ đẹp

- Dạy viết nét cơ bản hết sức tỉ mỉ: trước tiên giúp học sinh đếm dòng kẻ, nhận biết đường kẻ đậm nhạt, quy định đường kẻ đậm là đường kẻ số 1, tiếp theo là 2, 3, 4 rồi trở về 1.

- Giáo viên hướng dẫn kĩ điểm đặt bút, cách lia bút và điểm dừng bút. Giúp cho học sinh nắm chắc và viết đúng các nét cơ bản; nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét sổ, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt. Việc nắm chắc cách viết, viết đúng, viết đẹp, thành thạo các nét cơ bản, nắm được cấu tạo của từng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ dàng hơn.

- Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét giáo viên cần nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật.

- Luyện viết các con chữ theo nhóm:

+ Nhóm 1 gồm các con chữ: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, p, g, e, ê, s. Với nhóm chữ này giáo viên luyện viết nét cong kín tròn, đứng và đúng độ cao 2 li, độ rộng 1 li rưỡi. (Phân biệt nét cong kín, chữ o với số 0).

+ Nhóm 2 gồm các con chữ: b, l, h, k, y

+ Nhóm 3 gồm các con chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r.

 

                                                                                                                                                        Tác giả bài viết: Trần Thị Tình

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 21
Hôm qua : 82
Tháng 10 : 2.312
Năm 2020 : 34.650